Tamiflu

Ngày đăng: 09/25/2021
10 lượt xem

Tamiflu

Tamiflu
Dạng chế tao:Viên nang cứng
Đóng gói:Hộp 1 vỉ x 10 viên

Thành phần:

Oseltamivir (dưới dạng oseltamivirphosphat) 75mg
SĐK:VN-22143-19

:

Trị liệu cúm sớm trong vòng vài tiếng đồng hồ lúc bệnh ở nhóm có cao: người trên 65 tuổi, trẻ nhỏ, bệnh phổi mạn tính, bệnh tim mạch mạn tính, bệnh thận mạn tính, suy hụt miễn dịch, bệnh đái tháo đường.

Oseltamivir khuyến cáo để tham gia phòng trong vòng 48 giờ sau lúc tiếp xúc với hoặc lúc tiêm phòng không bảo vệ được trong dịch cúm, nhưng thuốc này không thay thế được vacxin cúm ( dự trữ hữu hiệu nhất).

Liều lượng –

Dự trữ cúm

*Người lớn dự trữ sau tiếp xúc với : 75 mg/ngày uống 1 lần, ít nhất trong vòng 7 ngày; lúc vụ dịch cúm (vaccin hiện có mất tác dụng bảo vệ với chủng gây dịch) mà thậm chí dự trữ tới 6 tuần.

*Trẻ từ một tuổi :
Trọng lượng thể chất Liều khuyên trong 10 ngày
≤ 15kg 30 mg ngày một lần
> 15kg đến 23kg 45 mg ngày một lần
> 23kg đến 40kg 60 mg ngày một lần
> 40kg 75 mg ngày một lần
Trị liệu cúm
*Người lớn: 75 mg cách 12 giờ uống 1 lần, trong 5 ngày;
*Trẻ em trên 1 tuổi:
trọng lượng thể chất = 15 kg: 30 mg cách 12 giờ uống 1 lần;
trọng lượng thể chất 16 – 23 kg: 45 mg cách 12 giờ uống 1 lần;
trọng lượng thể chất 24 – 40 kg: 60 mg cách 12 giờ uống 1 lần;
trọng lượng thể chất > 40 kg: như liều người lớn

Chống không dùng:

Không cho những người khoẻ mạnh bị cúm.

Quá mẫn với oseltamivir phosphate hoặc với ngẫu nhiên thành phần nào đó của thuốc.

Tương tác thuốc:

Thông tin từ những phân tích về dược lý và dược động học của oseltamivir phosphate cho thấy tương tác thuốc có ý nghĩa về mặt lâm sàng.

Một lượng lớn oseltamivir phosphate được chuyển hóa thành hợp chất có hoạt tính nhờ esterase khu trú cơ bản ở gan. Tương tác thuốc do sự đối đầu gắn esterase vẫn không được nhiều trong y văn. Do oseltamivir và chất chuyển hóa có hoạt tính đều gắn kết kém với protein huyết tương, tương tác do chiếm chỗ của thuốc khó mà thậm chí .

phân tích in vitro cho thấy cả oseltamivir phosphate lẫn chất chuyển hóa có hoạt tính đều không phải là chất nền tốt cho men oxidase có công dụng hỗn hợp P450 hoặc cho men glucuronyl transferases. (Xem mục Dược động học). nào về mặt cơ chế cho thấy có sự tương tác giữa thuốc và thuốc ngừa thai đường uống.

Cimetidine, một chất ức chế không đặc hiệu của những đồng dạng cytochrome P450 và là chất đối đầu với những thuốc gốc bazơ hoặc thuốc cation hóa để bồi tiết qua ống thận, không tồn tại gì lên nồng độ trong huyết tương của oseltamivir hoặc chất chuyển hóa có hoạt tính của nó.

Xét về mặt lâm sàng, tương tác thuốc quan trọng có liên quan đến sự đối đầu để bồi tiết qua ống thận khó mà thậm chí do giới hạn đáng tin cậy đã được biết của hầu hết thuốc, điểm sáng thải trừ của chất chuyển hoá có hoạt tính (lọc ở vi cầu thận và tiết ở ống thận dưới dạng anion) và thải trừ của những đường này. Sử dụng thuốc với probenecid sẽ làm tăng nồng độ lượng chất chuyển hóa có hoạt tính lên gần gấp hai do làm giảm sự tiết chủ động của chúng ở ống thận. Tuy vậy, nhờ giới hạn đáng tin cậy của chất chuyển hóa có hoạt tính rất rộng nên không quan trọng phải điều chỉnh liều lúc sử dụng thuốc chung với probenecid.

Sử dụng thuốc với amoxicillin không làm thay đổi nồng độ của cả hai loại thuốc chữa bệnh trong huyết tương, điều này cho thấy rằng sự đối đầu để được bồi tiết dưới dạng anion là rất yếu.

Sử dụng thuốc với paracetamol không làm thay đổi nồng độ trong huyết tương của oseltamivir, chất chuyển hóa có hoạt tính của nó, hoặc paracetamol.

tương tác thuốc về dược động học giữa oseltamivir hoặc chất chuyển hóa chính của nó được ghi nhận lúc chung oseltamivir với paracetamol, acid acetylsalicylic, cimetidine hoặc thuốc kháng acid (magnesium và hydroxid nhôm và carbonate canxi)

Trong những phân tích lâm sàng để và dự trữ phase III, người ta đã Tamiflu chung với thuốc thông dụng khác như thuốc ức chế men chuyển (enalapril, captopril), thiazide lợi tiểu (bendrofluazide), kháng sinh (penicillin, cephalosporin, azithromycin, erythromycin và doxycycline), thuốc chẹn thụ thể H2 (ranitidine, cimetidine), chẹn beta (propanolol), xanthine (theophyline), thuốc giống giao cảm (pseudoephedrine), chế phẩm thuốc phiện (codeine), corticosteroids, thuốc dãn phế quản dạng hít, và thuốc giảm đau (aspirin, ibuprofen và paracetamol). Không thấy có sự thay đổi nào về phản ứng phụ hoặc tần suất xuất hiện phản ứng phụ lúc Tamiflu chung với thuốc này.

Tác dụng phụ:

Buồn nôn, nôn, đau bụng, khó tiêu, ỉa chảy, nhức đầu, mệt rũ rời, mất ngủ, choáng váng; viêm niêm mạc , chảy máu cam mũi; thính giác; phát ban; hiếm lúc viêm gan.

đề phòng:

Thận trọng: Suy thận, phụ nữ mang thai, thời kỳ cho con bú

Thông tin thành phần Oseltamivir

Dược lực:

Oseltamivir phosphate là tiền chất của oseltamivir carboxylate (OC), một chất ức chế và công dụng men neuraminidase của virus cúm A và B. Men vai trò quan trọng trong việc virus xâm nhập vào những tế bào lành, cho việc giải phóng phần virus mới được tạo thành từ tế bào bị nhiễm, và do đó làm lan nhanh nhiễm virus.

Oseltamivir carboxylate ức chế men neuraminidase của virus cúm cả 2 type A và B. Nồng độ OC quan trọng để ức chế 50% hoạt tính men (IC50) ở giới hạn nanomol thấp. OC vừa ức chế sự lây nhiễm và sao chép của virus cúm in-vitro, vừa ức chế sự sao chép và gây ra bệnh của virus cúm in-vivo.
Dược động học :

Hấp thu

Oseltamivir được hấp thu ở đường tiêu hóa sau lúc uống oseltamivir phosphate và một phần lớn thuốc được chuyển hóa thành chất có hoạt tính, cơ bản nhờ men esterase ở gan. Nồng độ trong huyết tương của chất chuyển hóa có hoạt tính mà thậm chí tính được trong vòng 30 phút, đạt tới mức gần cực to sau lúc sử dụng thuốc 2-3 giờ và vượt đáng kể (> 20 lần) nồng độ của thuốc thuở đầu. Có ít nhất 75% lượng thuốc uống vào được vòng luân hồi dưới dạng chất chuyển hóa có hoạt tính. Nồng độ trong huyết tương của chất chuyển hóa có hoạt tính với liều và không trở nên bởi thức ăn cùng (Xem mục Liều lượng và )

Phân bố

Thể tích phân bố trung bình (Vss) của chất chuyển hóa có hoạt tính là khoảng 23 lít ở người. Gốc có hoạt tính tới được vị trí quan trọng bị nhiễm virus cúm qua phân tích trên chồn, chuột và thỏ. Trong những phân tích này, người ta đã thấy nồng độ kháng virus của chất chuyển hóa có hoạt tính triệu tập ở phổi, dịch rửa phế quản-phế nang, chất nhớt ở mũi, tai giữa và khí quản sau lúc uống oseltamivir phosphate.

Mức độ gắn kết của chất chuyển hóa có hoạt tính với protein huyết tương ở người là không đáng kể (xấp xỉ 3%). Mức gắn vào protein huyết tương ở người của tiền dược là 42%. Với mức này thì chưa đủ để tạo ra tương tác thuốc có ý nghĩa.

Chuyển hóa

Một lượng lớn oseltamivir phosphate được chuyển hóa thành chất chuyển hóa có hoạt tính nhờ men esterase, men này khu trú cơ bản ở gan. Cả oseltamivir lẫn chất chuyển hóa có hoạt tính đều không phải là cơ chất hoặc chất ức chế của những cytochrome P450 isoforms (Xem mục Tương tác thuốc)

Thải trừ

Oseltamivir sau lúc hấp thu được thải trừ phần lớn (> 90%) chuyển thành chất chuyển hóa có hoạt tính. Chất này không trở nên chuyển hóa tiếp mà bị thải trừ qua nước tiểu. Nồng độ đỉnh của chất chuyển hóa có hoạt tính trong huyết tương giảm dần với bán thải từ 6 đến 10 giờ trong hầu như trường hợp.

Thuốc có hoạt tính được thải trừ toàn bộ (> 99%) qua thận. Độ thanh thải thận (18,8 lít/giờ) vượt quá mức cần thiết lọc cầu thận (7,5 lít/giờ) cho thấy thuốc còn được thải trừ tiếp qua ống thận. Dưới 20% liều uống có khắc ghi phóng xạ được thải trừ qua phân.

Dược động học ở nhóm đặc trưng

Người mắc bệnh suy thận

Sau lúc 100mg Tamiflu, 2 lần/ngày, trong 5 ngày cho những bênh nhân bị suy thận ở mức độ không giống nhau, người ta thấy nồng độ chất chuyển hóa có hoạt tính nghịch với sự suy giảm công dụng thận.

Trị liệu

Không cần điều chỉnh liều cho những có độ thanh thải creatinine trên 30 ml/phút. Ở những có độ thanh thải creatinine từ 10-30 ml/phút, cần giảm liều Tamiflu xuống 75mg uống ngày một lần, trong 5 ngày. liều khuyên cho những bị bệnh thận cuối đang được lọc máu thường qui và thẩm phân phúc mạc liên tục, cũng như những có độ thanh thải creatinine ≤ 10 ml/phút (Xem mục hướng dẫn liều đặc trưng và mục đề phòng và Thận trọng lúc )

Phòng ngừa

Ở những có độ thanh thải creatinine từ 10-30 ml/phút, liều nên được giảm xuống còn 75mg Tamiflu, cách một ngày uống một lần, hoặc uống 30mg dạng huyền dịch mỗi ngày. liều khuyên cho những bị bệnh thận cuối đang được lọc máu thường qui và thẩm phân phúc mạc liên tục, cũng như những có độ thanh thải creatinine ≤ 10 ml/phút (Xem mục hướng dẫn liều đặc trưng và mục đề phòng và Thận trọng lúc )

Người mắc bệnh suy gan

Dựa trên những phân tích trong phòng thí nghiệm và trên động vật, ở những suy gan nhẹ hoặc trung bình, ngày càng tăng đáng kể nồng độ oseltamivir và chất chuyển hóa có hoạt tính không được ghi nhận và điều này đã được xác định lại phân tích lâm sàng (Xem mục Hướng dẫn liều đặc trưng). Độ đáng tin cậy và đặc tính dược động học ở suy gan nặng chưa được phân tích.

Người già

Ở người lớn tuổi (từ 65 đến 78 tuổi), nồng độ của chất chuyển hóa có hoạt tính ở trạng thái ổn định cao hơn khoảng 25-35% so với Người trẻ tuổi lúc cùng một liều Tamiflu. Thời hạn bán thải của thuốc ở người già tương tự như ở Người trẻ tuổi. Dựa vào nồng độ của thuốc và dung nạp, không cần điều chỉnh liều cho những người già lúc được hoặc phòng ngừa (Xem mục hướng dẫn liều đặc trưng)

Trẻ em

Dược động học của Tamiflu đã được Review trong một phân tích dược động học liều đơn ở trẻ em từ là 1 đến 16 tuổi. Dược động học đa liều được phân tích ở một số trong những ít trẻ từ 3 đến 12 tuổi trong một thử nghiệm lâm sàng. Trẻ nhỏ tuổi có mức độ thải trừ tiền dược và chất chuyển hóa có hoạt tính nhanh hơn so với trẻ lớn tuổi, làm cho nồng độ thuốc trở nên thấp hơn nếu xét theo liều được cho tính bằng mg/kg. Liều 2mg/kg cho nồng độ tác dụng của oseltamivir carboxylate tương tự với nồng độ đạt được ở người lớn liều đơn viên nang 75mg (xấp xỉ 1mg/kg). Dược động học của oseltamivir ở trẻ em trên 12 tuổi tương tự như ở người lớn.

Tin cậy tiền lâm sàng

Những dữ liệu tiền lâm sàng không cho thấy mối nguy hiểm đặc trưng nào của thuốc cho những người dựa trên phân tích thường thì về dược học đáng tin cậy, độc tính liều lặp lại và sự nhiễm độc gen.

Tính sinh ung thư

Ba phân tích về gây ung thư ( phân tích hai năm ở chuột nhắt và chuột lớn với oseltamivir, và thử nghiệm sáu tháng về trao đổi gen Tg: AC ở chuột nhắt được tiến hành với chất chuyển hóa có hoạt tính) cho kết quả âm tính.

Tính gây đột biến

Oseltamivir và chất chuyển hóa có hoạt tính cho kết quả âm tính trong lô thử nghiệm gây độc trên gen

Suy giảm sinh sản

Phân tích về sinh sản ở chuột với liều lên tới 1500mg/kg/ngày đã chứng tỏ không tồn tại tác động có hại nào lên cả hai giới.

Tính gây quái thai

phân tích về quái thai đã được tiến hành với liều lên tới 1500mg/kg/ngày ở chuột và 500mg/kg/ngày ở thỏ. Không ghi nhận được tác động nào của thuốc lên sự phát triển của phôi thai. Trong những phân tích chu sinh ở chuột, chuyển dạ kéo dãn được ghi nhận ở liều 1500mg/kg/ngày: giới hạn đáng tin cậy giữa liều ở người và liều tối đa không khiến hại (500mg/kg/ngày) ở chuột là gấp 480 lần so với oseltamivir và gấp 44 lần so với chất chuyển hóa có hoạt tính. Nồng độ thuốc ở phôi chuột và phôi thỏ xấp xỉ 15 đến 20% nồng độ ở mẹ.

Đặc tính khác

Ở chuột cho con bú, oseltamivir và chất chuyển hoá có hoạt tính được bồi tiết vào trong sữa. Ở người, vẫn không biết liệu oseltamivir và chất chuyển hoá có hoạt tính có được bồi tiết vào trong sữa mẹ , thế nhưng từ phép ngoại suy dữ liệu ở động vật, mà thậm chí dự đoán có khoảng 0,01mg oseltamivir và 0,3mg chất chuyển hóa có hoạt tính được bồi tiết vào trong sữa mẹ mỗi ngày.

da nhạy cảm với oseltamivir được ghi nhận trong một xét nghiệm “tối đa hóa” ở chuột lang. Sau lúc gây kích ứng với dị nguyên những con vật thí nghiệm này, người ta thấy có khoảng 50% con vật được với hoạt chất chính đơn thuần có xuất hiện ban đỏ. Sự gây kích ứng có hồi phục ở thỏ được phát hiện.

Trong lúc liều rất cao oseltamivir phosphat đường uống không tạo ra một biến cố bất lợi nào ở chuột trưởng thành, thì liều nó lại gây độc tính ở chuột con 7 ngày tuổi, kể cả tử vong. Những biến cố bất lợi này đã được ghi nhận với liều 657 mg/kg và cao hơn. Ở liều 500 mg/kg, không tồn tại biến cố bất lợi nào được ghi nhận, kể cả lúc lâu dài (chuột 7 đến 21 ngày tuổi liều 500 mg/kg/ngày).

Tác dụng :

OC (oseltamivir carboxylate) làm giảm sự lan tràn của virus cúm cả type A lẫn type B ức chế việc giải phóng virus gây nhiễm ra khỏi tế bào bị nhiễm.
:

Trị liệu cúm sớm trong vòng vài tiếng đồng hồ lúc bệnh ở nhóm có cao: người trên 65 tuổi, trẻ nhỏ, bệnh phổi mạn tính, bệnh tim mạch mạn tính, bệnh thận mạn tính, suy hụt miễn dịch, bệnh đái tháo đường.

Oseltamivir khuyến cáo để tham gia phòng trong vòng 48 giờ sau lúc tiếp xúc với hoặc lúc tiêm phòng không bảo vệ được trong dịch cúm, nhưng thuốc này không thay thế được vacxin cúm ( dự trữ hữu hiệu nhất).
Liều lượng – cách sử dụng:

Dự trữ cúm

*Người lớn dự trữ sau tiếp xúc với : 75 mg/ngày uống 1 lần, ít nhất trong vòng 7 ngày; lúc vụ dịch cúm (vaccin hiện có mất tác dụng bảo vệ với chủng gây dịch) mà thậm chí dự trữ tới 6 tuần.

*Trẻ từ một tuổi :
Trọng lượng thể chất Liều khuyên trong 10 ngày
≤ 15kg 30 mg ngày một lần
> 15kg đến 23kg 45 mg ngày một lần
> 23kg đến 40kg 60 mg ngày một lần
> 40kg 75 mg ngày một lần
Trị liệu cúm
*Người lớn: 75 mg cách 12 giờ uống 1 lần, trong 5 ngày;
*Trẻ em trên 1 tuổi:
trọng lượng thể chất = 15 kg: 30 mg cách 12 giờ uống 1 lần;
trọng lượng thể chất 16 – 23 kg: 45 mg cách 12 giờ uống 1 lần;
trọng lượng thể chất 24 – 40 kg: 60 mg cách 12 giờ uống 1 lần;
trọng lượng thể chất > 40 kg: như liều người lớn
Chống không dùng :

Không cho những người khoẻ mạnh bị cúm.

Quá mẫn với oseltamivir phosphate hoặc với ngẫu nhiên thành phần nào đó của thuốc.

Tác dụng phụ

Buồn nôn, nôn, đau bụng, khó tiêu, ỉa chảy, nhức đầu, mệt rũ rời, mất ngủ, choáng váng; viêm niêm mạc , chảy máu cam mũi; thính giác; phát ban; hiếm lúc viêm gan.

Xem thêm: thuốc ngừa thai đường uống

 

Lưu ý: Sử dụng thuốc theo không dùng của Bác Sỹ

Bình luận facebook

Đăng ký

Đăng ký để nhận tin tức mới nhất