Flodilan

Ngày đăng: 09/25/2021
13 lượt xem
Flodilan
Dạng sản xuất:Viên nén
Đóng gói:Hộp 2 vỉ x 14 viên

Thành phần:

SĐK:VD-28456-17

Không dùng:

Ðiều trị kết ăn & luyện tập kiểm soát đường huyết ở người bệnh đái tháo đường type 2 không phụ thuộc Insulin.

Liều lượng –

– Khởi đầu 1 – 2 mg, lần.

– Người bị bệnh nhạy cảm với thuốc nên khởi đầu 1 mg/ngày.

– Duy trì 1 – 4 mg lần. Chỉnh liều theo . Thậm chí tăng liều sau 1 – 2 tuần trị liệu & 2 mg một lần. Tối đa 8 mg.

Chống không sử dụng:

Quá mẫn với thành phần thuốc.

Tác dụng phụ:

– Nôn, đường tiêu hoá, tiêu chảy, không thích hợp da.

– Giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, thiếu máu tán huyết, thiếu máu bất sản.

Ghi chú đề phòng:

Không nên sử dụng cho phụ nữ có thai & cho con bú, trẻ em. Lưu ý hạ đường huyết hoặc mất thời gian làm việc kiểm soát đường huyết.

Thông tin thành phần Glimepiride

Dược lực:

Thuốc trị tiểu đường dạng uống (A: và chuyển hóa).
Dược động học :

– Hấp thu: Glimepiride có sinh khả dụng . Thức ăn không làm thay đổi đáng kể sự hấp thu của thuốc, tuy nhiên vận tốc hấp thu có chậm đi phần nào. Nồng độ tối đa trong huyết tương (Cmax) đạt được khoảng sau lúc uống thuốc 2 giờ 30 phút (trung bình là 0,3mcg/ml sau lúc sử dụng liều lặp lại 4mg).

Liên quan giữa liều sử dụng và Cmax hay diện tích S dưới đường cong nồng độ theo là tuyến tính.

– Phân bố: Glimepiride thậm chí tích phân phối rất thấp (khoảng 8,8l), tương tự như thể tích phân phối của albumin; glimepiride link mạnh với protein huyết tương (> 99%) và có độ thanh thải thấp (48ml/phút).

bán hủy được tính dựa trên nồng độ thuốc đo được trong huyết thanh sau lúc sử dụng liều lặp lại là từ 5 đến 8 giờ. Tuy nhiên lúc sử dụng liều cao, bán hủy được ghi nhận là có dài thêm hơn.

Sau lúc sử dụng glimepiride đã được , người ta thấy có 58% hoạt chất trong nước tiểu và 35% trong phân. Trong nước tiểu vết của hoạt chất thuốc chuyển hóa.

– Chuyển hoá: Hai chất chuyển hóa được tạo thành ở gan được nhận diện đồng thời cùng lúc ở trong toàn quốc tiểu và trong phân. Ðó là dẫn xuất hydroxy và dẫn xuất carboxy của glimepiride.

– Thải trừ: Sau lúc uống glimepiride, bán hủy sau cuối của hàm lượng chuyển hóa lần lượt là từ 3 đến 6 giờ và từ 5 đến 6 giờ.

Những thông số kỹ thuật dược động học của glimepiride thay đổi lúc sử dụng liều lặp lại (uống một lần mỗi ngày).

Những dao động về thông số kỹ thuật dược động học ở từng người thì rất thấp và bị tích lũy thuốc.

Những thông số kỹ thuật dược động học tương tự nhau ở cả hai giới tính và không thay đổi theo tuổi tác (trên 65 tuổi).

Ở những người có thanh thải creatinin giảm, sự thanh thải trong huyết tương của glimepiride tăng và nồng độ trung bình trong huyết thanh giảm thậm chí do sự của thuốc do giảm link với protein. Sự qua thận của hai chất chuyển hóa giảm. Dường như hiện tượng tích lũy thuốc ở những người bệnh này.

Dược động học ở 5 người bệnh đái tháo đường đã được phẫu thuật ống dẫn mật vẫn tương tự như dược động học lúc uống thuốc cho những người khỏe mạnh.

Ở động vật, glimepiride được qua sữa.

Glimepiride qua được hàng rào nhau thai; thuốc qua hàng rào máu não kém.

Tác dụng :

Glimepiride là một sulfamide hạ đường huyết thế hệ mới thuộc nhóm sulfonylurea được sử dụng trong trị liệu đái tháo đường type 2. Nó tác động bằng phương pháp kích thích giải phóng insulin bởi tế bào bêta của đảo Langerhans ở tụy tạng. Cũng như sulfonylurea khác, hiệu lực thực thi hiện hành này dựa trên sự tăng tế bào này tác nhân kích thích là glucose. Ngoài ra, người ta nhận thấy glimepiride còn tồn tại tác dụng ngoài tuyến tụy, hay nói một cách khác, Glimepiride có cơ chế tác động kép (tại tụy và ngoài tụy).

Tác dụng trên sự giải phóng insulin:

Những sulfonylurea điều hòa sự insulin bằng phương pháp đóng kênh kali lệ thuộc vào ATP ở màng của tế bào bêta. Việc đóng kênh kali sẽ gây khử cực ở màng, làm tăng calci vào trong tế bào (do mở kênh calci). Việc tăng nồng độ calci trong tế bào sẽ kích thích sự giải phóng insulin ra khỏi tế bào.

Glimepiride link nhanh và phóng thích nhanh với protein ở màng tế bào bêta và được phân biệt với sulfonylurea khác ở loại protein link, phối kênh kali lệ thuộc vào ATP.

Tác dụng ngoài tuyến tụy:

Những tác dụng ngoài tuyến tụy như nâng cấp sự nhạy cảm mô ở ngoại biên insulin và làm giảm sự tịch thu insulin ở gan.

Việc tịch thu glucose trong máu bởi tế bào cơ và tế bào mỡ được tiến hành qua trung gian protein chuyên chở của màng tế bào. Hiện tượng này là một yếu tố làm giới hạn vận tốc sử dụng glucose.

Glimepiride làm tăng rất nhanh số lượng hàm lượng chuyên chở chủ động trong màng tế bào cơ và tế bào mỡ, điều này cũng làm kích thích việc tịch thu glucose.

Glimepiride làm tăng hoạt động và sinh hoạt của phospholipase C chuyên biệt của glucosylphosphatidylinositol; sự tăng này thậm chí việc tạo mỡ và tạo glycogen do tác động của thuốc trong số tế bào mỡ và cơ đã được cách ly. Glimepiride ức chế việc tạo glucose ở gan bằng phương pháp làm tăng nồng độ trong tế bào của fructose 2,6-diphosphate, chất này tới phiên nó lại ức chế sự tân tạo glucose.

Tác động chung:

Ở người khỏe mạnh, liều tối thiểu công dụng bằng đường uống là 0,6 mg. Hiệu lực thực thi của glimepiride lệ thuộc vào liều và thậm chí tái tạo. Ðáp ứng với tăng vận động đột ngột (giảm insulin) vẫn xẩy ra lúc sử dụng glimepiride.

Nếu uống thuốc ngay hay khoảng 30 phút thì tác dụng của thuốc tương tự nhau. Ở người bệnh bị đái tháo đường, sử dụng liều duy nhất mỗi ngày cho phép kiểm soát thỏa đáng được sự chuyển hóa trong vòng một ngày đêm.

Tuy vậy chất chuyển hóa hydroxy của glimepiride cũng đều có tác động hạ đường huyết nhẹ, nhưng chỉ đóng góp một phần nhỏ vào tác dụng hạ đường huyết toàn phần.

Không dùng :

Ðái tháo đường type 2 không phụ thuộc insulin ở người lớn, lúc nồng độ đường huyết không thể kiểm soát thỏa đáng được bằng ăn kiêng, tập thể dục và giảm trọng lượng đơn thuần.
Liều lượng – :

Nguyên tắc chung:

– liều thấp nhất đạt được mức đường huyết mong muốn.

– Trị liệu phải được khởi đầu và theo dõi bởi .

– Người bị bệnh phải uống thuốc đúng liều và đúng theo toa .

– Bác Sỹ phải dặn trước người bệnh phải xử trí ra sao trong những trường hợp vi phạm trị liệu thí dụ như quên uống một liều thuốc, quên một giở ăn, thể uống thuốc đúng dặn trong toa.

– Không lúc nào được uống bù một liều thuốc quên uống bằng một liều cao hơn.

– Nếu phát hiện đã sử dụng một liều quá cao hoặc uống dư một liều phải báo ngay.

Liều khởi đầu và cách định liều:

– Khởi đầu: 1mg x 1 lần/ngày.

– Sau đó nếu cần, tăng liều từ từ: mỗi nấc phải cách quãng 1-2 tuần theo thang liều sau phía trên: 1mg-2mg-3mg-4mg-6mg(-8mg).

Giới hạn liều ở người bệnh được kiểm soát tốt đường huyết:

Thường liều sử dụng người bệnh này 1-4mg. Những liều mỗi ngày trên 6mg chỉ công dụng ở người bệnh.

Giờ giấc uống thuốc và cách phân liều:

– Giờ giấc uống thuốc và cách phân liều phải do quyết định căn cứ trên sinh hoạt của người bệnh.

– Thông thường một lần trong ngày là đủ.

– Uống thuốc sáng hoặc chính trước nhất trong ngày.

– Ðiều quan trọng là không được bỏ bữa ăn sau lúc đã uống thuốc.

Ðiều chỉnh liều:

Cần phải điều chỉnh liều trong số trường hợp sau:

– Do độ nhạy insulin nâng cấp lúc bệnh được kiểm soát, nhu yếu glimepiride thậm chí giảm lúc trị liệu một . Ðể tránh bị hạ đường huyết, cần phải ghi chú giảm liều hoặc ngưng thuốc đúng lúc.

– của người bệnh thay đổi.

– Sinh hoạt của người bệnh thay đổi.

– Những yếu tố thậm chí gây tăng độ nhạy hạ hay tăng đường huyết.

trị liệu:

Thường dài hạn.

Ðổi thuốc:

Không tồn tại liên hệ về liều lượng giữa Glimepiride và thuốc đái tháo đường dạng uống khác. đổi từ một thuốc đái tháo đường uống khác sang Glimepiride, cũng phải khởi đầu bằng 1mg rồi tăng dần như trên, cho dù người bệnh đã sử dụng đến liều tối đa của thuốc đái tháo đường khác. Phải ghi chú đến hiệu lực thực thi hiện hành và tác dụng của thuốc đái tháo đường trước đó. Thậm chí phải cho người bệnh ngưng thuốc trong một để tránh tác dụng cộng của hai thuốc đưa tới hạ đường huyết.

– của Glimepiride giảm (thất bại không toàn phần thứ phát) thậm chí sử dụng chung với insulin.

– Glimepiride cũng thậm chí sử dụng chung với thuốc trị đái tháo đường dạng uống không hướng tế bào bêta khác.

:

Nuốt nguyên viên, không nhai, uống với khoảng nửa ly nước.

Chống không sử dụng :

– Ðái tháo đường type 1 phụ thuộc insulin, thí dụ đái tháo đường với tiền sử bị nhiễm keto-acid.

– Nhiễm keto-acid do đái tháo đường.

– Tiền hôn mê hay hôn mê do đái tháo đường.

– Suy thận nặng: nên chuyển sang insulin.

– Suy gan nặng: nên chuyển sang insulin.

– Quá mẫn với glimepiride.

– Quá mẫn với sulfonylurea khác.

– Quá mẫn với sulfamide khác.

– Quá mẫn với tá dược nào của thuốc.

– Có thai hoặc dự định có thai: nên chuyển sang insulin.

– Cho con bú: nên chuyển sang insulin hoặc ngưng cho con bú.

Tác dụng phụ

Hạ đường huyết:

– Triệu chứng: nhức đầu, đói cồn cào, buồn nôn, nôn, , buồn ngủ, giấc ngủ, bứt rứt, gây gổ, giảm triệu tập, giảm linh hoạt, giảm phản ứng, trầm cảm, lẫn, lời nói, mất , thị giác, run, liệt nhẹ, cảm hứng, , hết hơi sức, mất tự chủ, nói sảng, co giật, ngủ gà và mất tri giác đi đến hôn mê, thở cạn và nhịp tim chậm.

– Ngoài ra thậm chí có triệu chứng điều hòa đối giao cảm như toát mồ hôi, da ẩm lạnh, , nhịp tim nhanh, huyết áp tăng cao, hồi hộp, đau thắt ngực, và loạn nhịp tim.

– Bệnh cảnh lâm sàng của cơn hạ đường huyết nặng thậm chí tương tự một cơn đột quỵ.

:

Ðặc biệt lúc chính thức trị liệu, có thị giác tạm thời do thay đổi mức độ đường huyết.

Ðường tiêu hóa:

– Ðôi lúc có buồn nôn, nôn, cảm hứng tức hay đầy vùng thượng vị, đau bụng và tiêu chảy và hiếm lúc phải dừng trị liệu.

– Trong những trường hợp riêng lẻ, thậm chí có tăng men gan và thậm chí có suy giảm tác dụng gan.

Huyết học:

– Hiếm: giảm tiểu cầu nhẹ hay nặng.

– Trong những trường hợp riêng lẻ: thiếu máu tán huyết, giảm hồng cầu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu hạt, mất bạch cầu hạt, giảm 3 dòng. tác dụng này sẽ biến mất lúc ngừng thuốc.

Những phản ứng phụ khác:

– Thỉnh thoảng: phản ứng không thích hợp hay giả không thích hợp thí dụ ngứa, mề đay hay mẩn đỏ. Dựa vào sự hiểu biết về sulfonylurea khác, triệu chứng không thích hợp nhẹ như trên thậm chí phát triển thành phản ứng trầm trọng với nghẹt thở và tụt huyết áp, đôi lúc đưa tới sốc. Do đó, lúc có mề đay, phải báo ngay .

– Trong vài trường hợp riêng lẻ, thậm chí có giảm nồng độ natri trong huyết tương.

– Dựa vào hiểu biết về sulfonylurea khác, thậm chí xẩy ra viêm mạch máu không thích hợp hay da nhạy cảm với ánh sáng.

Lưu ý: Sử dụng thuốc theo không sử dụng của Bác Sỹ

Bình luận facebook

Đăng ký

Đăng ký để nhận tin tức mới nhất