Bộ răng cấu trúc ra sao và đóng vai trò gì?

Ngày đăng: 11/06/2021
23 lượt xem

Răng là một cơ quan vô cùng quen thuộc với chúng ta. Không như những cơ quan khác nằm sâu bên trong thể chất, chúng ta quan sát được bộ răng bằng thị giác thường. Răng và cấu trúc khác của khối hệ thống nhai đóng vai trò quan trọng trong hoạt động và sinh hoạt sống của thể chất. Răng tham gia vào hoạt động và sinh hoạt tiêu hóa, phát âm, bảo vệ và cấu trúc sọ mặt.

Hình như, răng cũng là một phần quan trọng của khuôn mặt. Hàm răng chắc khỏe, trắng sáng đem lại cho chúng ta sự tự tin trong cuộc sống thường ngày. Nào hãy cùng YouMed tìm hiểu về cấu trúc và tính năng của răng thể chất chúng ta nhé!

1. về cơ quan răng và bộ răng

Cơ quan răng răng và nha chu (quanh răng). Trên đây là đơn vị hình thái và tính năng của bộ răng. Răng là cơ quan trực tiếp nhai nghiền thức ăn. Nha chu là cơ quan giữ và nâng đỡ răng, đồng thời cùng lúc là cơ quan nhận cảm, tiếp nhận và dẫn truyền lực nhai.

Răng gồm: men, ngà (mô cứng) và tủy (mô mềm). Nha chu gồm xê măng (còn gọi là xương chân răng, men chân răng), dây chằng, xương ổ răng, nướu (lợi). Do xê măng bám chặt vào ngà chân răng và có nhiều tình trạng bệnh chung với mô cứng khác của răng (men, ngà), về mặt giải phẫu lâm sàng, xê măng là thành phần thường được mô tả cùng với răng .

Bộ răng là một thể thống nhất thuộc khối hệ thống nhai, tạo thành bởi sự sắp xếp có tổ chức cơ quan răng. Về mặt phôi thai học và mô học, răng nói riêng, cơ quan răng nói tóm lại, có nhiều nguồn gốc.

  • Men răng có nguồn gốc ngoại bì, là một của tế bào, khoáng hóa cao độ và cứng nhất thể chất. Thành phần hữu cơ là protein của khuôn men.
  • Ngà và xê măng là những mô khoáng hóa đặc trưng có nguồn gốc trung bì. , thành phần khung sợi là collagen .
  • Tủy có nguồn gốc trung mô của nhú răng.
  • Dây chằng răng, xương ổ răng thuộc mô link, là của túi răng.
  • Nướu gồm biểu mô phủ và thành phần mô link phụ thuộc.

1.1. Răng sữa

Lúc mới sinh, trẻ không tồn tại răng trong miệng. Tuy vậy phim tia X cho thấy có những phần cản tia X của mầm răng ở mức độ phát triển không giống nhau. Trong thời kỳ nhũ nhi, thức ăn của trẻ lỏng hoặc sệt, do đó răng không giữ vai trò quan trọng trong ăn nhai. Bộ răng sữa là bộ răng tạm thời, mọc lúc 6 tuổi, mọc khá đầy đủ lúc 24 – 36 tháng.

>> Vì răng chưa phát triển nên chưa ăn được thức ăn cứng mà cần phải có chính sách ăn dặm thích hợp. Xem thêm: thì nên cho trẻ ăn dặm?

Bộ răng sữa
Bộ răng sữa

1.2. Răng vĩnh viễn

trẻ được khoảng 6 tuổi, răng vĩnh viễn trước nhất mọc. Răng vĩnh viễn trước nhất này là răng số 6 (răng sáu tuổi, răng cối lớn thứ nhất, răng cối lớn 1). Sau đó, răng khác của bộ răng vĩnh viễn sẽ lần lượt mọc lên để thay thế răng sữa. Bộ răng vĩnh viễn mọc khá đầy đủ ở tuổi 18 – 25. từ 6 – 7 tuổi đến 11 – 12 tuổi , trong miệng trẻ có hai loại răng cùng tồn tại. Nó được gọi là bộ răng hỗn hợp .

Bộ răng vĩnh viễn
Bộ răng vĩnh viễn

1.3. Công thức răng (nha thức)

Công thức răng là một dãy chữ và số, để biểu diễn số lượng răng của từng nhóm răng ở ở một phía hàm (gồm nửa hàm trên và nửa hàm dưới). Nó thường được phổ cập và có giá trị trong phân loại học động vật .

Công thức bộ răng sữa của người:

Cửa 2/2, Nanh 1/1, Cối sữa 2/2 = 10.

(Nghĩa là có 10 răng sữa ở mỗi nửa hàm, bộ răng sữa khá đầy đủ có 20 răng).

Công thức bộ răng vĩnh viễn của người:

Cửa 2/2, Nanh 1/1, Cối nhỏ 2/2, Cối lớn 3/3 = 16.

(Nghĩa là có 16 răng vĩnh viễn ở mỗi nữa hàm, bộ răng vĩnh viễn khá đầy đủ có 32 răng).

răng cửa và răng nanh gọi chung là răng trước. răng cối sữa hoặc răng cối lớn và cối nhỏ gọi chung là răng sau .

1.4. Cách gọi tên

Chính thức từ đường giữa của hai cung răng đi về hai phía, răng được gọi tên tuần tự như sau:

1.4.1. Răng vĩnh viễn (Ký hiệu bằng chữ số Ả Rập từ một đến 8):

  • Nhóm răng cửa:

Cửa giữa (răng số 1).

Cửa bên (răng số 2).

  • Nhóm răng nanh:

Răng nanh (răng số 3).

  • Nhóm răng cối nhỏ:

Răng cối nhỏ thứ nhất (cối nhỏ 1, răng số 4) .

Răng cối nhỏ thứ hai (cối nhỏ 2, răng số 5) .

  • Nhóm răng cối lớn:

Cối lớn thứ nhất (cối lớn 1, răng số 6, răng 6 tuổi).

Cối lớn thứ hai (cối lớn 2, răng số 7, răng 12 tuổi).

Răng cối lớn thứ ba 3 (răng số 8, răng khôn).

Minh họa cách đọc tên răng
Minh họa cách đọc tên răng

1.4.2. Răng sữa (Ký hiệu bằng chữ cái từ A đến E, hay chữ số La Mã từ I đến V)

Bộ răng sữa không tồn tại nhóm răng cối nhỏ.

  • Nhóm răng cửa sữa:

Cửa giữa sữa (răng A hay răng I).

Cửa bên sữa (răng B hay răng II) .

  • Nhóm răng nanh sữa:

Răng nanh sữa (răng C hay răng III).

  • Nhóm răng cối sữa:

Răng cối sữa thứ nhất (cối sữa 1, răng D hay răng IV).

Răng cối sữa thứ hai (cối sữa 2, răng E hay răng V).

Cách gọi  tên “răng hàm” thay cho “răng cối phổ cập. Nhưng từ “cối ” vừa sát nghĩa hơn, vừa đỡ gây nhầm lẫn trong số tập hợp từ có với từ “hàm” trong “xương hàm, hàm trên, hàm dưới”.

Tùy vị trí của răng trên cung răng, thuộc hàm trên hay hàm dưới, phía bên phải hay , răng được gọi tên khá đầy đủ bằng phương pháp thêm tên phần tư hàm đó hay góc phần tư vào tên răng.

Ví dụ: Răng cối lớn 1 hàm trên phía bên phải. Hay: Răng cửa giữa sữa hàm trên phía bên phải.

Ngoài ra, răng được gọi tên hoặc ký hiệu theo nhiều phương pháp khác phổ cập. Trên thực tiễn, cách nói và viết “răng cối lớn thứ nhất hàm trên phía bên phải” thường được giản hoá thành “răng cối lớn 1 trên phải” cũng khá được và thường được sử dụng.

1.5. Sơ đồ răng

Là sơ đồ biểu diễn từng răng theo vị trí trên phần tư hàm của hai hàm. Sơ đồ răng cũng là hình vẽ cung răng hoặc mặt răng giản dị hóa trong mô tả, chẩn đoán, trị liệu.

Hãy giữ cho răng của bạn luôn khỏe đẹp
Hãy giữ cho răng luôn luôn khỏe và đẹp

2. Sơ lược cấu trúc bộ răng

2.1. phần của răng

Mỗi răng có phần thân răng và chân răng. Giữa chân răng và thân răng là đường cổ răng (cổ răng giải phẫu). Này là một đường cong, còn gọi là đường nối men – xê măng. Thân răng được bảo phủ bởi men răng, chân răng được xê măng .

Phần răng thấy được trong miệng là thân răng lâm sàng. Nướu răng viền xung quanh cổ răng tạo thành một bờ, gọi là cổ răng tâm sinh lý. Cổ răng tâm sinh lý thay đổi nơi bám và bờ của viền nướu. tuổi thì nơi bám này càng có khuynh hướng dần về phía chóp răng. Nhiều trường hợp tình trạng bệnh, nướu răng bị sưng hoặc trụt, làm thân răng lâm sàng bị ngắn lại hoặc dài ra.

Cơ quan răng
Cơ quan răng

2.2. Cấu trúc của răng

men răng, ngà răng (mô cứng) và tủy răng (mô mềm).

2.2.1. Men răng

Men răng phủ mặt ngoài ngà thân răng, có nguồn gốc từ ngoại bì, là mô cứng nhất trong thể chất, có tỉ lệ chất vô cơ cao (96%).

Hình dáng và bề dày của men được xác định răng mọc ra. Trong đời sống, men răng không tồn tại sự bồi đắp thêm mà chỉ mòn dần theo tuổi, nhưng có sự trao đổi về vật lý cơ và hóa học với môi trường xung quanh miệng.

2.2.2. Ngà răng

Có nguồn gốc từ trung bì, kém cứng hơn men, chứa tỉ lệ chất vô cơ thấp hơn men (75%). Trong ngà có nhiều ống ngà, chứa đuôi bào tương của nguyên bào ngà. Bề dày ngà răng thay đổi trong đời sống do hoạt động và sinh hoạt của nguyên bào ngà. Ngà răng ngày càng dày theo hướng về phía hốc tủy răng, làm hẹp dần hốc tủy.

2.2.3. Tủy răng

Là mô link mềm, nằm trong hốc tủy gồm tủy chân và tùy thân. Tủy răng trong buồng tủy gọi là tùy thân, tuỷ buồng, tủy răng trong ống tủy gọi là tủy chân. nguyên bào ngà nằm sát vách hốc tủy. Tủy răng có trọng trách duy trì sự sống của răng. Rõ ràng là việc sống của nguyên bào ngà và tạo ngà thứ cấp, nhận của răng. Trong tủy răng có chứa nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và đầu tận cùng thần kinh trung ương.

Tủy răng giúp duy trì sự sống của răng
Tủy răng giúp duy trì sự sống của răng

2.3. nâng đỡ răng (nha chu, quanh răng)

xương ổ răng, xê măng, dây chằng nha chu và nướu (lợi) răng.

2.3.1. Xương ổ răng

Là mô xương xốp, bên phía ngoài được bảo phủ bằng màng xương, nơi nướu răng phụ thuộc vào. Xương ổ răng tạo thành một huyệt, có hình dáng và kích thước thích nghi với chân răng. ổ răng, nơi đối diện với chân răng, là mô xương đặc trưng và có nhiều lỗ thủng làm cho mạch máu và dây thần kinh trung ương từ xương xuyên qua để nuôi dây chằng nha chu, gọi là xương ổ chính danh hay lá sàng.

Trên hình ảnh tia X, phần xương ổ chính danh trông cản tia hơn, gọi là lá cứng. Nền xương ổ không phân biệt được với xương hàm. Chiều cao xương ổ răng thay đổi theo tuổi và sự lành mạnh hay tình trạng bệnh của mô nha chu. răng không hề trên xương hàm thì xương ổ răng và thành phần của nha chu tiêu dần đi.

2.3.2. Xê măng

Là mô đặc trưng, hình thành cùng với sự hình thành chân răng, phủ mặt ngoài ngà chân răng.

Xê măng được bồi đắp thêm ở phía chóp để bù trừ sự mòn mật nhai, được hiện tượng “mọc răng suốt đời” hay “trồi mặt nhai”. Xê măng cũng tiêu hoặc quá sản trong một số trong những trường hợp hay tình trạng bệnh.

2.3.3. Dây chằng nha chu

Là những bó sợi link, dày khoảng 0,25 mm, một đầu phụ thuộc vào xê măng, còn đầu kia phụ thuộc vào xương ở chính danh. Cả xê măng, dây chằng nha chu và xương ổ chính danh đều phải sở hữu nguồn gốc từ túi răng chính danh. Dây chằng nha chu có trọng trách giữ cho răng gắn vào xương ổ răng. Đồng thời cùng lúc, nó có tính năng làm vật đệm, làm cho từng răng có sự xê dịch nhẹ độc lập với nhau trong ăn nhai, giúp lưu thông máu, truyền và truyền lực để tránh tác dụng có hại của lực nhai răng và nha chu.

2.3.4. Nướu răng

Là phần niêm mạc miệng phủ lên xương ổ răng (nướu dính) và cổ răng (nướu rời).

3. Vai trò của răng và khối hệ thống nhai

nhai là một tổng thể, một đơn vị tính năng. Nó : răng, nha chu, xương hàm, khớp thái dương hàm, cơ hàm, khối hệ thống môi – má – lưỡi, tuyến nước bọt, khối hệ thống mạch máu và thần kinh trung ương nuôi dưỡng và phân phối cơ quan đó.

nhai không chỉ là đảm nhiệm tính năng nhai mà còn tiến hành hoặc tham gia tiến hành nhiều tính năng khác: bú, nuốt, nói… nhai đóng vai trò quan trọng trong đời sống (tính năng tiếp xúc và biểu cảm). Vì vậy, nó có vai trò đặc trưng unique cuộc sống thường ngày, hoạt động và sinh hoạt xã hội, sức khoẻ và niềm hạnh phúc của con người.

Bộ răng và hệ thống nhai có vai trò hết sức quan trọng
Bộ răng và khối hệ thống nhai có vai trò hết sức quan trọng

Bộ răng và khối hệ thống nhai đóng vai trò quan trọng hoạt động và sinh hoạt sống của con người. Tiềm năng của con người là phải luôn luôn đảm bảo sự lành mạnh và thoải mái cho khối hệ thống nhai, thêm phần mang lại tình hình sức khỏe , nâng cao unique cuộc sống thường ngày cho từng cá thể và toàn xã hội.

Bình luận facebook

Đăng ký

Đăng ký để nhận tin tức mới nhất