Áp xe má: Nguyên nhân, dấu hiệu và cách chữa trị.

Ngày đăng: 11/03/2021
28 lượt xem

Áp xe má là nhiễm trùng xẩy ra ở vùng má, với nguyên nhân là do răng (90%). Áp xe gây sưng vùng má; kèm theo đau, sốt, há giới hạn và . Vì cấu trúc giải phẫu vùng má có thông thương với những khoang khác vùng đầu cổ; do đó áp xe má lan đến những vùng khác nếu không được ngay bây giờ.  Việc dẫn lưu mủ và nguyên nhân là vô cùng quan trọng. Sau trên đây nào hãy cùng nhau YouMed tìm hiểu về những cấu trúc giải phẫu vùng má; nguyên nhân và cách bệnh này nhé!

1. Giải phẫu vùng má

Khoang má là một không khí mô mềm thuộc vùng đầu cổ. Nó là một khoảng trống bên trong má. Khoảng trống này nằm tại phía ngoài cơ cắn và phía trong so với cơ bám da và da.

Bệnh áp xe má
Bệnh áp xe má

1.1 Ranh giới của khoang má gồm:

  • Phía trước là góc miệng
  • Phía sau là cơ cắn
  • Trên là cung gò má và những cơ bám gò má
  • Dưới là cơ hạ góc miệng
  • Cơ mút nằm phía trong
  • Cơ bám da cổ, mô dưới da và da phía ngoài

1.2 khoang thông thương:

Khoang má thông thương với: khoang chân bướm hàm, hố dưới thái dương, khoang cơ cắn, khoạng cạnh hầu. Thâm chí lan đến khoang nanh.

 Giải phẫu vùng nanh và má
Giải phẫu vùng nanh và má

1.3 Bên trong vùng má chứa:

Khối mỡ má

Vùng má chứa khối mỡ má, còn gọi là cục mỡ Bichat. Khối mỡ má nằm giữa cơ cắn và cơ mút và chứa đựng bởi một lớp mô . Phía sau trên, khối mỡ này phân cách cơ thái dương với những cơ chân bướm. Tại bờ trước cơ thái dương, khối mỡ lan lên trên đến hố thái dương, giữa bờ trước cơ thái dương và phía sau nằm giữa cơ thái dương và mạc thái dương.

Chung quanh phần gân cơ thái dương, nơi bám tận ở bờ trước cành cao xương hàm dưới, khối mỡ má lây lan ra phía sau vào vùng chân bướm hàm. Phần mỡ lan vào vùng chân bướm hàm nằm xung quanh thần kinh trung ương lưỡi, thần kinh trung ương răng dưới và mạch máu răng dưới; lây lan ra sau đến tới tận mặt sâu tuyến mang tai.

Về phía trên, phần mỡ này nằm giữa cơ chân bướm ngoài và cơ chân bướm trong, nối với phần mỡ hố chân bướm khẩu qua khe chân bướm khẩu ở bờ trước mảnh chân bướm ngoài. Như vậy, tổ chức mỡ này không đơn thuần là khối mỡ má mà là đệm mỡ giữa những cơ nhai.

Sự liên tục của khối mỡ má lên trên cũng là con đường liên thông giữa vùng má với vùng dưới thái dương, vùng chân bướm hàm và vùng thái dương. Ngoài ra, vùng má thông thương với vùng nanh phía trước.

  • ống dẫn lưu tuyến mang tai (ống dẫn Stenson)
  • và mặt trước
  • và mặt ngang

2. Nguồn

Trong số mô mềm của má, hệ vi sinh xâm nhập từ ổ nhiễm trùng của răng bị bệnh. Không thể loại trừ trường hợp sau má cả từ bên phía ngoài lẫn trong khoang miệng. Trong trường hợp không , viêm và lây nhiễm lan sang những khu vực lân cận. do lây lan từ những tổn thương ở những vùng dưới tai và tuyến mang tai. những mụn nhọt thường thì cũng gây viêm má.

hình thành và phát triển áp xe do sâu răng không được :

Sâu răng gây hoại tử tủy, vi trùng sau một khu trú tại ống tủy sẽ vượt qua chóp răng gây nhiễm trùng những cấu trúc quanh chóp răng. Viêm quanh chóp cấp do nhiều nguyên nhân không giống nhau như : thể trạng kém; thủ thuật quá thô bạo trong ống tủy.; nhiễm trùng từ mô nha chu cũng lan đến vùng quanh chóp theo đường dây chằng.

Nhiễm trùng từ vùng chóp sẽ lan theo nhiều hướng và phát triển mạnh theo hướng có đề kháng ít nhất. Nhiễm trùng lan rộng ra qua xương, đến vỏ xương làm bong màng xương tạo tổn thương dưới màng xương. Nếu tiếp tục đi xuyên qua lớp màng xương đến mô tế bào quanh hàm tạo nên viêm mô tế bào; triệu chứng bằng sưng phổng ngách lợi.

Nếu được thích hợp bằng phương pháp nội nha tiêu chuẩn chỉnh, nhiễm trùng sẽ được ngăn chặn tại trên đây. Nếu chỉ sử dụng kháng sinh đơn thuần, làm ngưng phát triển của nhiễm trùng nhưng sẽ tái phát lúc ngưng thuốc và răng nguyên nhân chưa được . Nếu không được , nhiễm trùng tiếp tục phát triển và sẽ hình thành túi mủ: áp-xe. Từ trên đây, nhiễm trùng sẽ tiến triển theo nhiều hướng không giống nhau tùy vào vị trí giải phẫu của từng răng.

Vị trí của nhiễm trùng sẽ được xác định tùy thuộc vào hai yếu tố sau:

  • Độ dày lớp xương chứa đựng chung quang vùng chóp
  • Vị trí xuyên thủng xương của nhiễm trùng so với chỗ bám của cơ ở hàm trên và dưới
Áp xe má do các răng sau hàm trên và dưới
Áp xe má do những răng sau hàm trên và dưới

3. Nguyên nhân

bệnh về răng miệng là nguyên nhân gây áp xe má

  • Áp xe nha chu: trên đây là một quy trình ở vùng chóp của chân răng;
  • Áp xe răng sau: Nhiễm trùng từ những răng cối hàm trên hoặc hàm dưới. Nếu nhiễm trùng đi cao hơn chỗ bám cơ mút (răng trên) hoặc thấp hơn chỗ bám cơ mút( răng dưới) sẽ lây lan ra mô tế bào vùng má làm sưng và biến dạng má; có thời gian làm việc dò ra da nếu không thích hợp.
  • Viêm quanh hàm cấp và mạn tính: với bệnh này, hệ vi sinh nhanh gọn lẹ đi đến những mô mềm và viêm xẩy ra trong ngắn;
  • Viêm tủy xương hàm: Trên đây là nguy hiểm, kèm theo sự hình thành nhiều dịch mủ trong mô xương.
  • Viêm nha chu nặng: kèm theo này là tổn thương nướu và mô xương tiếp giáp với răng. Ở dạng phát triển, một khoảng trống được hình thành giữa chân răng và xương hàm. Trên đây là những túi nha chu. Chúng chính thức hình thành mô hạt với chất lỏng có mủ. xương tiêu đi, dịch lỏng này thâm nhập vào những khoảng gian bào của má.
  • Áp xe lưỡi, áp xe hầu họng.
  • Viêm mô tế bào vùng má do vi khuẩn Haemophilus influenzae.
  • Áp xe khoang má do của loại bệnh Crohn

4. triệu chứng chính

Triệu chứng của những triệu chứng của áp xe má phần lớn nguyên nhân xuất hiện của nó.

  • Áp xe khoang má thường tạo nên sưng mặt vùng má. kéo dãn từ vòm miệng ở trên đến đường viền dưới của hàm dưới; và từ đường viền trước của cân cơ sau đến góc miệng trước.
  • Nếu như có bên phía ngoài, thì da có trầy xước, , sung huyết ở vết thương.
  • Bất đối xứng của khuôn mặt.
  • Đau vùng tổn thương
  • Ở sau, kèm sốt, xuất hiện lỗ rò rỉ mủ. sờ nắn khối áp xe có cảm hứng đau nhói.

nguyên nhân gây viêm là những răng miệng, lúc đó kèm theo những triệu chứng như:

  • Hạn chế há miệng và đau lúc mở miệng, chế độ ăn uống và thủ thỉ.
  • vùng nướu và ngách hành lang liên quan với răng nguyên nhân.
  • Tăng nhiệt vùng tổn thương
  • Đau buốt lúc chạm vào.
  • Áp-xe quanh miệng lâu ngày có tự  chảy qua một xoang da ở phía dưới khoang, gần đường viền dưới của hàm dưới và góc miệng. Một xoang da không được tạo nên xơ hóa mô mềm; làm biến dạng và trở thành lớp biểu mô lót.

Mối quan tâm đặc trưng và không thông dụng là nhiễm trùng khoang má không do răng hoặc viêm mô tế bào ở vùng má tạo nên bởi Haemophilus influenzae.

Nhiễm trùng này  thường thấy ở trẻ sơ sinh hoặc trẻ em dưới 3 tuổi; được đặc trưng bởi sốt cao ít nhất 24 giờ trước lúc xuất hiện những dấu hiệu lâm sàng. Sự nhanh gọn lẹ của sưng đỏ sẫm nhầm lẫn với nhiễm trùng do răng hoặc viêm quầng. Hiện nay H. influenzae thường kháng ampicillin, nhưng   tốt với amoxicillin-clavulanate (Augmentin) hoặc cephalosporin như cefaclor. này xẩy ra ở trẻ to hơn.

Áp xe má ở trẻ có thể nhầm với viêm quầng
Áp xe má ở trẻ nhầm với viêm quầng

Áp-xe khoang vùng má tái phát xẩy ra như một của loại bệnh Crohn.

Bệnh có diễn biến lâm sàng đau bụng , sốt, sụt cân và tiêu chảy, được đặc trưng bởi u hạt viêm; xẩy ra trong toàn bộ chiều dài của đường tiêu hóa, từ miệng đến . Tổn thương u hạt và vết loét của niêm mạc vùng má tiến triển thành áp xe vùng má thực sự. Tỷ trọng tái phát cao của u hạt hoặc áp xe mới hình thành tuy vậy đã kháng sinh, corticosteroid, hoặc liệu pháp phẫu thuật.

Việc chẩn đoán của nha sĩ dựa trên thăm khám và lời khai của người mắc bệnh. Từ tiền sử của loại bệnh, những nguyên nhân chính tạo nên sự xuất hiện của áp xe má sẽ được xác định.

5. áp xe má

nào của những quy trình áp xe đều nhằm mục tiêu mục đích loại bỏ trọn vẹn nguyên nhân . áp xe vùng miệng và hàm mặt có nguyên nhân là do răng: 90% nhiễm trùng từ chóp răng hoặc mô nha chu. Do đó việc phải kết phù hợp với răng nguyên nhân

Việc lựa chọn tùy thuộc trường hợp. Chúng mức độ của tổn thương, sức khỏe của thể chất và cũng như những đặc tính của hệ vi sinh.

Rạch dẫn lưu mủ

Cần phải mở tổn thương và thiết lập khối hệ thống dẫn lưu. việc mở tổn thương không đơn giản dễ dàng, tuy nhiên cần phải dẫn lưu dịch mủ ra ngoài. Dẫn lưu cho phép vết thương không phát triển quá mức cần thiết.

Như vậy, lúc súc miệng bằng những dung dịch sát khuẩn cũng tiếp cận tốt với tổn thương. Điều này cho phép tăng tốc quy trình . Dung dịch soda ấm với vài giọt i-ốt và furacilin là chất khử trùng tuyệt vời. dẫn lưu ngoài mặt cần lưu ý tránh những cấu trúc quan trọng như thần kinh trung ương mặt.

 Dẫn lưu áp xe má ngoài mặt
Dẫn lưu áp xe má ngoài mặt

răng nguyên nhân

Nếu nguyên nhân áp xe do răng, thì cần tủy hoặc nhổ bỏ răng.

nội khoa

Thuốc kháng sinh cho áp xe mô mềm lựa chọn cẩn trọng. Thuốc được sử dụng dưới dạng tiêm bắp hoặc viên nén. Việc lựa kháng sinh được tiến hành bởi BS, tốt nhất là sau lúc phân tích về hệ vi sinh độ nhạy. Trong trường hợp đau nặng, thuốc giảm đau được sử dụng.

6. Tiên lượng

Tiên lượng của loại bệnh thường khả quan. Sự phục hồi xẩy ra sau 6-14 ngày. Sau lúc giảm những triệu chứng cấp tính của loại bệnh, những phương pháp trị liệu được khuyến khích. Chúng nhanh gọn lẹ tái tạo những mô, tái tạo mạch máu và sự hình thành những xơ hóa.

Như đã nói ở trên, việc chẩn đoán nguyên nhân và áp xe má ngay bây giờ là vô cùng quan trọng. Việc kéo dãn không tạo nên áp xe lan rộng ra vùng đầu mặt, thậm chí là nguy hiểm đến tính mạng con người. gặp bất kể triệu chứng nào nghi ngờ áp xe má, hãy liên hệ BS để được ngay.

BS Trương Mỹ Linh

Bình luận facebook

Đăng ký

Đăng ký để nhận tin tức mới nhất